Thứ Tư, 31 tháng 10, 2018

Có thể chữa khỏi bệnh giang mai không?


Với sự phát triển của y học hiện đại bệnh giang mai có thể chữa khỏi được hay không?

Nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời sẽ dễ dẫn đến các biến chứng nguy hiểm, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người bệnh và gây khó khăn cho điều trị.

Giang mai là một bệnh nhiễm khuẩn do xoắn khuẩn Treponema pallidum gây nên. Xoắn khuẩn giang mai xâm nhập trực tiếp vào cơ thể khi giao hợp không được bảo vệ (đường âm đạo, hậu môn hay miệng), qua các vết xước trên da, niêm mạc khi tiếp xúc với dịch tiết từ tổn thương giang mai.

Xoắn khuẩn giang mai còn có thể lây truyền từ mẹ sang con trong thời kỳ bào thai từ tháng thứ 4 trở đi, do xoắn khuẩn xâm nhập máu thai nhi qua dây rốn.

Tiến triển của bệnh qua các giai đoạn

Thời kì 1: 
Giai đoạn đầu mắc bệnh giang mai hay còn gọi là giang mai thời kỳ 1, giai đoạn này có thời kì ủ bệnh, kéo dài khoảng 6 - 8 tuần, tổn thương mới chỉ khu trú tại những vị trí mà xoắn khuẩn xâm nhập, sẽ xuất hiện những hạt nhỏ có màu đỏ bé bằng hạt gạo mọc ra trên rãnh dương vật, trên dương vật, bao quy đầu, môi lớn môi bé âm vật.

Sau đó những hạt nhỏ sẽ kết cứng lại to bằng móng tay, những mụn nhỏ có thể bị vỡ ra, chảy dịch ra ngoài, trong chất dịch đó, có chứa một lượng lớn các xoắn khuẩn

giang mai, tăng nguy cơ lây nhiễm bệnh. Tổn thương thường không được chú ý và tự lành trong vòng 2 đến 6 tuần, tuy nhiên vi khuẩn vẫn còn tồn tại trong cơ thể. Nếu không điều trị bệnh sẽ tiến triển sang giai đoạn 2.

Thời kì 2: 
Xuất hiện sau lần tiếp xúc đầu tiên từ 2 đến 6 tháng. Các biểu hiện thường nhẹ và có thể bao gồm các triệu chứng giống cúm; nổi ban ở lòng bàn tay, bàn chân, cánh tay, chân; săng ở vùng sinh dục và rụng tóc. Các biểu hiện trên có thể biến mất và không được chú ý đến, nhưng có thể kéo dài đến 2 năm. Nếu không được điều trị, bệnh có thể tiến triển đến giai đoạn III.

Thời kì 3:

Thường bắt đầu vào năm thứ 3 của bệnh, kéo dài hàng chục năm, gây tổn thương các cơ quan, phủ tạng (gan, tim, thần kinh, cơ, xương, não…), có thể gây nguy hiểm cho tính mạng người bệnh. Giai đoạn này người bệnh ít có khả năng lây nhiễm cho bạn tình vì xoắn khuẩn đã xâm nhập và khu trú vào phủ tạng, không còn ở da, niêm mạc nữa.

Tóm lại, bệnh giang mai có thể được chẩn đoán bằng xét nghiệm máu tại các cơ sở y tế hay các trung tâm sức khỏe sinh sản. Để tránh được những biến chứng nguy hiểm của bệnh, khi có các dấu hiệu mắc bệnh hoặc nếu có quan hệ tình dục không an toàn với đối tượng nghi ngờ cần đến ngay cơ sở trên để xét nghiệm và điều trị kịp thời.

Xem thêm địa chỉ chữa bệnh giang mai tốt nhất ở Quảng Ninh tại đây

Thứ Năm, 18 tháng 10, 2018

Phân biệt sùi mào gà và mụn rộp sinh dục

Bệnh sùi mào gà và mụn rộp sinh dục do có nhiều triệu chứng giống nhau nên có nhiều người nhầm lẫn, từ đó điều trị không đúng cách dẫn đến bệnh lâu khỏi. Vì vậy, mọi người cần có kiến thức để phân biệt 2 bệnh này và đi khám điều trị kịp thời.


Cả hai bệnh sùi mào gà và mụn rộp sinh dục đều là bệnh lây nhiễm chủ yếu qua đường tình dục, do virut gây ra. Độ tuổi mắc bệnh phổ biến ở lứa tuổi 18-30, chủ yếu ở những người có quan hệ tình dục không an toàn. Người có sức đề kháng kém, suy giảm hệ miễn dịch do nhiễm HIV thường có nguy cơ lây nhiễm cao hơn những người khác.

Khác nhau giữa sùi mào gà và mụn rộp sinh dục

Bệnh sùi mào gà: Sùi mào gà do Human papilloma virus (HPV) gây nên, hình thành các u nhú trên da và niêm mạc ở người. Sùi mào gà có thời kỳ ủ bệnh khoảng 3 tuần tới 9 tháng. Sau thời gian ủ bệnh, người bệnh khởi đầu xuất hiện các nốt sùi nhỏ, mềm, cao, đường kính 1-2 mm. Tổn thương là những đĩa dẹt hình tròn nhỏ, màu hồng với bề mặt thô ráp.

Dần dần thành những mảng rộng với dạng hoa mào gà hoặc súp-lơ trên bề mặt ẩm thấp dễ chảy mủ. Các nốt sùi xuất hiện ở cơ quan sinh dục, hậu môn trực tràng hay mắt, miệng, lưỡi... Bề mặt mềm, mủn nước và ấn ra mủ, một số trường hợp còn chảy máu, khí hư ra nhiều (ở phụ nữ) bốc mùi hôi khắm khó chịu và gây đớn đau. Nốt sùi có mủ, dễ chảy máu lúc chạm vào làm cho người bệnh khó chịu, có triệu chứng sốt.


Mụn rộp sinh dục: Bệnh mụn rộp sinh dục do Herpes simplex virus (HSV) gây ra. Mụn rộp sinh dục với thời kỳ ủ bệnh khoảng 6-10 ngày. Trước khi mụn rộp sinh dục gây nên các tổn thương, người bệnh thường có cảm giác khó chịu, ngứa, rát, dấm dứt... Tổn thương bắt đầu bằng một vết đỏ, nề, sau đó nhanh chóng xuất hiện các mụn nước thành cụm, tròn hoặc hình cầu đều nhau.

Dịch trên những nốt mụn rộp sinh dục ban đầu gần như trong suốt, sau dần chuyển sang thành đục. Sau vài ngày, mụn rộp sinh dục vỡ, khô hoặc đóng vảy màu vàng hoặc hơi nâu, gắn chặt, khi bong để lại một vết đỏ và trở lại bình thường không thành sẹo. Những hạch lympho lân cận có thể sưng hoặc đau. Nơi nhiễm HSV gây ra bệnh mụn rộp thường có cảm giác đau rát, sau vài giờ có thể nổi mảng đỏ trên mặt da mắc tổn thương và những mụn nước nhỏ, đau hoặc loét nông ở âm hộ, các môi sinh dục, cổ tử cung ở phụ nữ và dương vật ở con trai... hình thành trên mảng đỏ thành từng chùm hoặc rải rác. Bệnh nhân đi tiểu đau, vùng sinh dục dễ bị đau khi chạm vào.

Phụ nữ có thể bị ra huyết trắng. Vài ngày sau mụn nước vỡ gây nên những vết loét có vảy, đau đớn. Từ 7-20 ngày, vảy bong ra để lại vết trợt đỏ rồi lành. Bệnh mụn rộp sinh dục thường tái phát dù đã khỏi, tuy nhiên, sau một thời kỳ vẫn mắc lại. Lần đầu nhiễm bệnh mụn rộp sinh dục có biểu hiện gần giống với cúm (đau bắp thịt, stress, nhức đầu, sốt nhẹ), đi tiểu đau hay nước tiểu ít, hạch bạch huyết mắc sưng; sưng, đau và ngứa quanh bộ phận sinh dục, tiết dịch ở miệng sáo.

Ảnh hưởng của sùi mào gà và mụn rộp sinh dục

Bệnh sùi mào gà dễ tái phát tăng nguy cơ ung thư

Bệnh sùi mào gà rất dễ tái phát và hiện chưa loại thuốc nào có thể điều trị triệt để căn bệnh này. Virut HPV typ 16, 18 có thể gây ung thư âm đạo, tử cung ở nữ giới và ung thư dương vật, vòm họng ở nam giới; Gây đau đớn khi giao hợp, nếu như mắc bệnh lúc có thai sẽ ảnh hưởng đến thai nhi sau khi sinh. Bệnh sùi mào gà không chỉ tác động đến sinh hoạt và đời sống vợ chồng mà nếu không chữa trị kịp thời, bệnh sẽ tiến triển nặng, dễ tái phát và có thể gây ra những biến chứng. Nghiêm trọng nhất là gia tăng nguy cơ ung thư âm đạo, ung thư cổ tử cung , ung thư dương vật...

Mụn rộp sinh dục và những biến chứng

Mụn rộp sinh dục gây các vết loét ở bộ phận sinh dục. Nếu không được điều trị, để bệnh tiến triển nặng sẽ gây biến chứng đầu tiên là nhiễm khuẩn (bội nhiễm), có khả năng có các biến chứng khác ở nữ giới như viêm cổ tử cung do Herpes, viêm nội mạc tử cung, viêm phần phụ... Còn ở đàn ông, có thể gây viêm mào tinh hoàn, viêm tiền liệt tuyến.

Phụ nữ mang thai bị mụn rộp sinh dục có thể lây cho con trong quá trình sinh qua đường âm đạo. Mụn rộp sinh dục có thể dẫn đến tổn thương não, mờ mắt hoặc tử vong cho bé.

Phòng ngừa thế nào?

Để ngừa bệnh mụn rộp sinh dục và sùi mào gà, cần giữ vệ sinh cơ thể sạch sẽ; quan hệ tình dục chung thủy với một bạn tình an toàn; sử dụng bao cao su để phòng bệnh cho mình và bạn tình. Nếu quan hệ tình dục qua đường miệng, phải dùng tấm lưới bảo vệ miệng. Vệ sinh cá nhân trước và sau khi quan hệ tình dục sạch sẽ. Không dùng kim tiêm hay các vật dụng có chứa máu, dịch nhầy, mủ của người nghi nhiễm bệnh. Không dùng chung đồ dùng cá nhân: quần áo, bàn chải đánh răng, khăn mặt, khăn tắm... Vệ sinh bồn tắm, bồn cầu và nhiều vật dụng khác trước khi sử dụng. Nếu nghi ngờ mình và bạn tình có các biểu hiện của bệnh, hãy đề nghị họ đi khám để có hướng điều trị phù hợp.
Theo:giadinh.net

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2018

4 căn bệnh lây qua đường tình dục không có thuốc chữa

Người bệnh chỉ có thể sử dụng thuốc, phương pháp điều trị triệu chứng hoặc giảm nhẹ và buộc phải chung sống với các loại virus này suốt đời.

Sùi mào gà

Bệnh sùi mào gà do virus HPV (Human Papilloma HPV) gây u nhú. Bệnh lây truyền rất dễ qua con đường tình dục.

Hiện nay, việc điều trị virus HPV gây bệnh sùi mào gà có các phương pháp là dùng thuốc, hóa chất và laser, hoặc dùng thuốc bôi tại chỗ để ức chế virus. Cách này chỉ phù hợp với những trường hợp bệnh nhẹ, chớm bị nhờ phát hiện sớm.

Việc điều trị bệnh sùi mào gà thường rất nan giải và lâu dài, do bệnh có nguy cơ tái phát cao khi hệ miễn dịch suy yếu. Người bệnh sẽ mang virus trong cơ thể suốt đời, khi đó virus nhân lên trong tế bào tới một số lượng nhất định sẽ phát ra thành bệnh.

Bệnh nhân sẽ được bác sĩ hẹn tái khám sau 2-3 tuần điều trị. Sau đó nếu xét nghiệm lại vẫn còn tổn thương, bệnh nhân sẽ được điều trị tiếp.
Nhiều người đã mắc bệnh qua đường tình dục, chữa khỏi bệnh xã hội hay không đang là câu hỏi đặt ra.

Herpes simplex

Virus Herpes simplex (HSV) có thể gây nên nhiễm khuẩn da cấp tính và biểu hiện mụn nước thành nhóm trên nền da đỏ.

Bệnh thường biểu hiện với các dấu hiệu đau, bỏng rát, ngứa hoặc tê nhẹ vùng da trước khi nổi mụn nước, sau đó nổi mụn nước thành chùm trên nền da đỏ.

Vị trí thường gặp là quanh môi, vùng quy đầu, bao quy đầu, môi lớn, môi bé và vùng da xung quanh sinh dục. Chúng thường tiến triển thành mụn mủ hoặc loét và phủ vảy tiết lên trên. Bệnh nhiễm thứ phát thường xuất hiện lại tại vị trí cũ hoặc gần đó.

Khi bị nhiễm HSV, virus này sẽ nằm im tại các hạch thần kinh cảm giác dưới da và sẽ ở đó suốt cả đời người bệnh. Khi cơ thể mệt mỏi, giảm sức đề kháng, stress, chúng sẽ trở nên hoạt tính và từ trong hạch thần kinh đi ra ngoài da - niêm mạc gây bệnh. Khoảng 1/3 số người bệnh bị tái phát, một nửa bị tái phát ít nhất 2 lần/năm. 

HIV

HIV là virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. HIV gây tổn thương hệ thống miễn dịch của cơ thể và làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh dẫn đến chết người.

AIDS là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV được thể hiện bởi các bệnh nhiễm trùng cơ hội, ung thư và các bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch dẫn đến tử vong. Thời gian từ khi nhiễm HIV đến biến chuyển thành bệnh AIDS tùy thuộc vào hành vi và đáp ứng miễn dịch của từng người nhưng tựu chung lại trong khoảng thời gian trung bình là 5 năm. Đây là căn bệnh xã ội cực kỳ nguy hiểm.

Viêm gan B

Viêm gan siêu vi B là bệnh truyền nhiễm, do Hepatitis B virus (HBV) gây ra. Bệnh lây từ người bệnh sang người lành qua đường máu, đường quan hệ tình dục và từ mẹ sang con.

Đường quan hệ tình dục (quan hệ tình dục xâm nhập, quan hệ tình dục bằng miệng) cũng là đường làm lây bệnh viêm gan B. Khi quan hệ tình dục bằng miệng, nếu trong khoang miệng của người bị bệnh viêm gan B có các tổn thương (nhiệt miệng, viêm răng, viêm lợi, viêm amidan có mủ…), HBV có thể qua dịch huyết tương ở các vết thương làm lây bệnh cho “đối tác”.
Nguồn: news.zing.vn

Thứ Hai, 20 tháng 8, 2018

Tổng hợp các bệnh lây truyền qua đường tình dục

Bệnh lây truyền qua đường tình dục là do các tác nhân vi sinh vật lây truyền từ người này sang người khác chủ yếu qua tiếp xúc tình dục. Các nguyên nhân gây bệnh có thể là do vi khuẩn, virut, đơn bào, kí sinh vật ngoài da hoặc nấm gây ra.


Theo thống kê về tình dục an toàn, nhiều bệnh nhiễm trùng có thể dễ dàng lây truyền từ miệng qua bộ phận sinh dục hoặc từ bộ phận sinh dục qua miệng nhưng việc lây truyền từ miệng sang miệng rất ít xảy ra.

Với HIV, chất dịch sinh dục là tác nhân gây bệnh dễ dàng hơn so với nước bọt. Một số bệnh lây qua đường tình dục cũng có thể lây truyền qua tiếp xúc da trực tiếp, ví dụ như: Herpes simplex và HPV. Virut Herpes có thể lây truyền qua nụ hôn sâu hoặc khi nước bọt được sử dụng như một chất bôi trơn tình dục.

Mọi hành vi tình dục có liên quan đến các chất dịch trong cơ thể đều chứa một số nguy cơ lây truyền các bệnh qua đường tình dục. Người ta chỉ chú ý tập trung vào HIV nhưng các bệnh hoa liễu khác cũng tiềm ẩn rất nhiều mối nguy hiểm.

Các chuyên gia y tế nhận thấy tình dục an toàn, chẳng hạn như việc sử dụng bao cao su là phương pháp đáng tin cậy nhất để giảm nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Bệnh Chlamydia

Nếu người mẹ mang thai mắc bệnh Chlamydia thì có thể dễ dàng lây truyền sang cho con. Trẻ sinh ra ở người mẹ mắc bệnh Chlamydia có thể bị viêm phổi hoặc nhiễm trùng mắt từ khi sơ sinh.

Tất cả những người có hoạt động tình dục đều có thể bị nhiễm chlamydia. Ở các bạn tuổi “teen” và phụ nữ trẻ, cổ tử cung chưa hoàn toàn trưởng thành nên rất dễ bị nhiễm trùng.

Họ có nguy cơ đặc biệt cao đối với nhiễm trùng nếu sinh hoạt tình dục sớm. Đàn ông đồng tính cũng có nguy cơ lây nhiễm vì Chlamydia có thể lây truyền khi quan hệ tình dục qua đường miệng hoặc hậu môn.

Bệnh Trichomonas (Trùng roi)

Bệnh trùng roi âm đạo do Trichomonas vaginalis nếu không được phát hiện, chữa trị kịp thời thì tình trạng viêm âm đạo kéo dài lâu ngày có thể gây nên các biến chứng như viêm buồng trứng, vòi trứng làm cho bệnh nhân đau đớn, có hiện tượng bị rong kinh; cổ tử cung cũng có thể bị viêm loét, đau, ngứa, niêm mạc sưng đỏ.

Vô sinh cũng là một biến chứng thường gặp do trùng roi tiết ra chất nhày, tạo thành nút bao bọc và bít kín cổ tử cung, ngăn cản không cho tinh trùng xâm nhập vào để thụ tinh nên không thể thụ thai được.

Ngoài ra, bệnh cũng có thể gây nên biến chứng viêm nhiễm đường tiết niệu với biểu hiện lâm sàng rõ hoặc không rõ. Ở một số trường hợp người phụ nữ bị bệnh trùng roi âm đạo, khi đi tiểu thường thấy đau buốt, có chất dịch mủ và tìm thấy ký sinh trùng trong nước tiểu.

Giang mai

Giang mai có thể gây ra nhiều biểu hiện và tổn thương ở khắp nơi của cơ thể tùy theo diễn tiến bệnh như da, niêm mạc, cơ, xương, nội tạng, nhất là tim mạch và thần kinh. Có dạng giang mai bẩm sinh do mẹ lây qua con trong thời gian mang thai.

Những bà mẹ khi mang thai chẳng may bị giang mai nhưng lại không điều trị cẩn thận hoặc không điều trị thì nguy cơ lây nhiễm cho đứa trẻ trong bụng là khó tránh khỏi.

Người mẹ nếu mắc bệnh giang mai trong thời kỳ mang thai, dễ sảy thai do xoắn khuẩn đi vào nhau thai gây viêm động mạch, dẫn đến tắc động mạch, nhau thai bị hoại tử làm cho thai nhi không nhận được chất dinh dưỡng và dẫn đến tình trạng sảy thai.
Bệnh lậu

Phụ nữ có thai bị bệnh lậu có nguy cơ cao về sẩy thai, nhiễm khuẩn ối hoặc chuyển dạ sớm. Trong quá trình chuyển dạ, nếu mẹ mắc bệnh lậu thì vi khuẩn của bệnh có thể truyền sang cho bé.

Bệnh lậu sẽ ảnh hưởng đến mắt của bé sơ sinh, nếu không được điều trị, bé có thể bị mù. Ngoài ra, bệnh lậu từ mẹ có thể ảnh hưởng đến các phần khác trên cơ thể bé như nhiễm khuẩn máu, nhiễm khuẩn khớp gối và chứng viêm màng não.

Bệnh hạ cam

Bệnh này do trực khuẩn Ducrey gây ra. Triệu chứng là những vết loét đau, có mủ ở bên ngoài hoặc bên trong cơ quan sinh dục hoặc ở hậu môn, thường kèm theo nổi hạch ở bẹn.

Nếu chỉ bị loét bên trong thì bạn không nhìn thấy vết loét, nhưng có thể tiểu buốt, đau khi đi ngoài và khi giao hợp, tiết dịch bất thường, chảy máu ở hậu môn. Bệnh này có thể dùng kháng sinh đặc hiệu để điều trị.


Mụn cơ quan sinh dục (còn gọi là HPV)

Là những mụn cóc nổi ở bất kỳ nơi nào trên cơ thể. Có nhiều dạng HPV, tất cả đều có thể gây sưng, ngứa ở cơ quan sinh dục hay hậu môn. Theo các chuyên gia, một số dạng HPV làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung ở phụ nữ.

HIV

Các triệu chứng thường xuất hiện sau nhiều năm nhiễm bệnh, gồm nhiễm trùng, sút cân, tiêu chảy, sốt, đổ mồ hôi đêm, mệt mỏi... Bệnh này thường lây qua quan hệ tình dục, gồm qua âm đạo, hậu môn, quan hệ tình dục đường miệng. Virut gây bệnh sẽ lây từ người này qua người khác ở tinh dịch, dịch âm đạo hay máu. Một số khác sẽ vào cơ thể người qua những vết trầy xước rất nhỏ.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên

Yếu tố nguy cơ của bệnh LTQ ĐTD là sinh hoạt tình dục không an toàn và mại dâm liên quan đến những vấn đề có tính chất toàn cầu như:

Thay đổi quan niệm về tình dục: Khác với trước kia nhiều nước được coi là tương đối khắt khe về quan hệ tình dục trước hôn nhân nhưng hiện nay quan niệm này bị thay đổi dẫn đến việc quan hệ tình dục tự do, đặc biệt là các nước châu Á.


Lối sống thiếu lành mạnh, tệ nạn mại dâm trở nên phổ biến ở nhiều nước phát triển và đang phát triển cũng là một yếu tố nguy cơ rất cao của bệnh LTQ ĐTD, đặc biệt là HIV/AIDS.

Bệnh LTQĐTD và nhiễm HIV/AIDS có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó nhiễm HIV/AIDS là điển hình của bệnh LTQĐTD, có thể xem đây là hai bạn đồng hành. Khi bị bệnh LTQĐTD thì sẽ làm tăng nguy cơ lây truyền HIV; khi bị nhiễm HIV/AIDS sẽ làm cho việc điều trị các bệnh LTQĐTD sẽ trở nên khó khăn hơn, bệnh kéo dài hơn. Điều trị các bệnh LTQ ĐTD sẽ làm giảm lây nhiễm HIV đáng kể.

Hầu hết các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở giai đoạn đầu thường không có dấu hiệu rõ ràng. Điều này là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bệnh nhân không biết mình đã mắc bệnh để đi khám kịp thời. Từ đó dẫn đến bệnh diễn biến nặng hơn, gây ra nhiều khó khăn khi điều trị và chi phí điều trị cũng tăng lên.

Lời khuyên của thầy thuốc

Khi cơ quan sinh dục có những biểu hiện bất thường sau, người bệnh nên tìm đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được khám và điều trị kịp thời:

Có dịch bất thường chảy ra từ âm đạo hoặc đầu dương vật, hoặc cơ quan sinh dục bị ngứa, đau, đỏ, rát hoặc có các nốt, các vết loét bất thường; tiểu đau, buốt hoặc rát, hoặc tiểu nhiều hơn bình thường; đau bất thường ở vùng bụng dưới ở nữ giới mà không liên quan gì đến chu kỳ kinh nguyệt. Nam giới sẽ bị tiết dịch niệu đạo nhưng số lượng không nhiều.

Những dịch này thường nhầy và có màu trắng đục hoặc vàng. Trên da có nhiều mụn cóc, hoặc các mụn phỏng rộp đau, chảy nước, hoặc có lốm đốm đỏ, hay các u nhọt quanh miệng hoặc cơ quan sinh dục hoặc nổi hạch ở vùng bẹn; đau khi giao hợp ở nữ hoặc có ra máu sau quan hệ tình dục...

Trong quá trình điều trị, người bệnh cần kiêng quan hệ tình dục để tránh bệnh dễ lây lan, có thể dẫn đến nhiễm khuẩn kép, làm cho bệnh càng nặng thêm. Cần thực hiện quan hệ một vợ một chồng, chung thủy, không quan hệ tình dục bừa bãi để tránh mắc lậu và nhiều căn bệnh xã hội nguy hiểm khác, đặc biệt là HIV/AIDS.
Nguồn: http://soha.vn/

Thứ Tư, 18 tháng 7, 2018

Cách đề phòng mụn rộp sinh dục


Bệnh mụn rộp sinh dục hay còn gọi là Herpes sinh dục là bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục do virut Herpes Simplex gây ra.


Bệnh mụn rộp sinh dục hay còn gọi là Herpes sinh dục là bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục do virut Herpes Simplex gây ra. Các virut này xâm nhập cơ thể qua những lỗ hổng trên da hoặc qua dịch nhầy, khả năng lây nhiễm qua đường tình dục cao.

Các dấu hiệu khởi đầu của bệnh mụn rộp sinh dục là đau và ngứa, thường xảy ra sau 2-7 ngày sau khi nhiễm virut. Vài giờ đến vài ngày sau, vết loét bắt đầu xuất hiện. Vết loét đầu tiên chỉ là một chỗ sưng đỏ nhỏ, mềm, đau, rồi trở nên mọng nước trong vài ngày. Sau đó chúng vỡ miệng ra trở thành vết loét, gây rỉ dịch hoặc chảy máu. Ở nữ, vết loét có thể xuất hiện ở vùng âm đạo, cơ quan sinh dục ngoài, mông, hậu môn hoặc bên trong cổ tử cung. Ở nam, vết loét có thể ở dương vật, bìu, mông, hậu môn, đùi, niệu đạo,... Người bệnh phải chịu đựng những đau đớn và nhiều cảm giác khó chịu khác ở vùng sinh dục cho đến khi sạch virut. Trong giai đoạn bộc phát, bệnh nhân có thể có các triệu chứng nhiễm virut thông thường giống bệnh cúm, gồm: sốt, nhức đầu và nổi hạch bẹn. Chu kỳ bị mụn rộp sinh dục rất đặc biệt. Các dấu hiệu và triệu chứng có thể tái phát qua hàng năm. Có những người bị tái phát hàng tháng. Tuy vậy hầu hết bệnh nhân bị bộc phát không thường xuyên. 

Ở người trưởng thành, ngoài vết loét da, mụn rộp sinh dục không gây ra các biến chứng gì nặng nề khác. Khi mẹ mang thai bị mụn rộp sinh dục với các vết loét da có thể lây cho con khi sinh đẻ qua đường âm đạo. Trường hợp này, mụn sinh dục có thể gây tổn thương não, mờ mắt hoặc tử vong cho trẻ.

Hiện nay chưa có liệu trình điều trị dứt điểm bệnh mụn rộp sinh dục. Tuy nhiên để điều trị bệnh, có thể dùng thuốc ức chế virut như acyclovir, famciclorvir và valacyclovir nhằm giúp vết loét lành nhanh hơn và hạn chế tái phát. Có thể dùng trong đợt bộc phát hoặc sau khi bộc phát (phòng ngừa đợt kế tiếp).

Giống như các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, phòng bệnh là quan trọng hơn cả. Mấu chốt là tránh sự lây lan của HSV, nhất là trong giai đoạn có tổn thương loét. Hãy đợi đến khi các vết loét hoàn toàn lành lặn mới quan hệ tình dục trở lại. Một khi bị mụn rộp sinh dục, người bệnh sẽ có nguy cơ cao mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, kể cả HIV và AIDS. Để phòng tránh mụn rộp sinh dục, tốt nhất nên quan hệ tình dục lành mạnh, một vợ một chồng và dùng bao cao su thường xuyên. Trường hợp người đang bị mụn rộp sinh dục cần tránh lây lan cho bạn tình bằng cách: tránh quan hệ tình dục, tránh đụng chạm và giữ cho vết loét sạch sẽ và khô ráo, rửa tay kỹ sau khi tiếp xúc với vết loét.

Theo BS. Xuân Dung

Sức khoẻ & Đời sống

Bệnh mụn rộp sinh dục


Bệnh Herpes sinh dục (hay còn gọi là mụn rộp sinh dục) do Herpes Simplex Virus (HSV) gây ra, là một bệnh có tính chất lây truyền mạnh qua đường tình dục.

Mùa hè, trời nóng, cơ quan sinh dục luôn bị ẩm ướt vì mồ hôi là điều kiện thuận lợi cho virut HSV phát triển và gây bệnh.

Các triệu chứng của bệnh Herpes sinh dục dễ nhận biết là: ngứa ngáy, bỏng rát, khó chịu tại một số vùng da, niêm mạc. Sau đó, tại đây nổi lên các mụn chứa đầy nước nhân mụn có mủ trắng, da quanh nốt mụn bị tấy đỏ. Các tổn thương này thường xuất hiện ở âm hộ, âm đạo, môi lớn, môi nhỏ, hậu môn, mông, má, môi, khoang miệng, đùi (của nữ giới) hoặc miệng, cằm, môi, hậu môn, da bìu, bẹn, thân dương vật, mông, quy đầu, bao quy đầu, đùi, chân của nam giới. Các nốt mụn rộp này có thể tồn tại trong khoảng 1 - 2 tuần, sau đó bắt đầu đóng vảy cứng và dần biến mất mà không cần điều trị. Thực chất lúc này virut HSV mới chỉ tạm “lui” ở ẩn, sau đó khoảng vài tháng, tình trạng bệnh lại tái diễn.

Khi bệnh tái phát, người bệnh bị sốt, nhức đầu, cơ thể mệt mỏi, chân tay đau nhức, nổi hạch bạch huyết, đau cơ, kém ăn uống. Hiếm gặp hơn là một số nam giới mắc bệnh Herpes sinh dục có thể chảy dịch mủ từ lỗ sáo, đối với nữ giới là tình trạng dịch tiết âm đạo ra nhiều hơn, có mùi hôi.

Các vết loét do bệnh Herpes sinh dục gây ra khiến người bệnh đau đớn, khó chịu. Khi quan hệ tình dục, người bệnh sẽ đau rát, giảm khoái cảm, đi tiểu buốt, tiểu rắt nhiều lần trong ngày, nặng hơn có thể đi tiểu ra máu hoặc dịch mủ. Phụ nữ mắc Herpes sinh dục khi mang thai dễ phải đối mặt với nguy cơ sẩy thai, sinh non, lây truyền sang con (qua nước ối của thai phụ hoặc trong quá trình sinh nở, thai nhi đi qua âm đạo và tiếp xúc với các dịch mủ chứa virut HSV). Em bé sinh ra từ mẹ bị Herpes sinh dục có thể gặp phải các vấn đề như tổn thương não, mù mắt, mờ mắt…

Bệnh Herpes sinh dục rất dễ lây lan cho người khác. Quan hệ tình dục không an toàn là con đường lây nhiễm chủ yếu. Virut HSV có trong dịch nhầy, mủ, máu của người bệnh nên có thể lây truyền qua tiếp xúc da-da, dùng chung kim tiêm hoặc nhận truyền máu từ người bệnh.

Để ngừa bệnh Herpes sinh dục, cần: Giữ vệ sinh cơ thể sạch sẽ. Quan hệ tình dục an toàn và chung thủy. Sử dụng bao cao su thường xuyên. Vệ sinh cá nhân trước và sau khi quan hệ tình dục sạch sẽ. Không dùng kim tiêm hay các vật dụng có chứa máu, dịch nhầy, mủ của người nghi nhiễm bệnh… Nếu nghi ngờ mình và bạn tình mắc bệnh Herpes sinh dục, hãy đi khám để có hướng điều trị phù hợp nhất.

Theo SK&ĐS

Thứ Hai, 18 tháng 6, 2018

Mức độ nguy hiểm và dấu hiệu nhận biết bệnh giang mai


Giang mai là một bệnh xã hội hết sức nguy hiểm, nếu không chữa trị kịp thời có thể gây ra những biến chứng, đe dọa đến tính mạng con người.


Bệnh giang mai là một trong những bệnh hoa liễu cổ điển nguy hiểm nhất từ trước tới giờ. Bệnh do xoắn khuẩn giang mai có tên gọi là Treponema pallidum gây ra. Giang mai được xếp vào nhóm bệnh xã hội do tốc độ lây lan nhanh thông qua việc quan hệ tình dục không an toàn. Nếu không được điều trị, bệnh sẽ gây những nguy hại khôn lường tới sức khỏe.


Nguyên nhân lây bệnh giang mai:


Do quan hệ tình dục không an toàn với đối tác mang bệnh: bao gồm các hình thức quan hệ qua đường âm đạo, hậu môn và quan hệ qua đường miệng không bảo vệ

Lây từ mẹ sang con: Phụ nữ mắc bệnh giang mai nhưng không biết vẫn mang thai hoặc trong khi đang mang thai bị mắc bệnh có nguy cơ cao lây truyền sang thai nhi thông qua dây rốn hoặc nước ối khiến đứa trẻ sinh ra mắc bệnh giang mai bẩm sinh.

Lây qua đường máu: Vô tình truyền máu của người bị giang mai cũng là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh này.

Ôm hôn, hoặc tiếp xúc thân mật với người bệnh cũng là nguyên nhân lây truyền căn bệnh này, tuy nhiên tỷ lệ này khá ít.

Tiếp xúc với vết thương hở của người bệnh: dịch bệnh và máu của người bệnh có thể truyền sang bạn khi tiếp xúc.

Càng ở giai đoạn đầu, bệnh giang mai càng dễ lây nhiếm. Khi đã chuyển sang giai đoạn cuối, bệnh không còn khả nang lây nhiễm nữa.

Dấu hiệu của bệnh:


Bệnh giang mai trải qua 3 giai đoạn và có những biểu hiện khác nhau:

Dấu hiệu giang mai giai đoạn 1: sau thời gian ủ bệnh, giang mai thường bắt đầu với sự xuất hiện của các vết loét ở những nơi tiếp xúc với xoắn khuẩn giang mai, thường là ở bộ phận sinh dục như: môi lớn, môi bé, âm đạo, cổ tử cung, quy đầu, dương vật hoặc trực tràng, có hình tròn hay bầu dục kích thước 0.3 đến 3cm, bờ nhẵn, màu đỏ, không ngứa, không đau, không có mủ. Người bệnh có thể bị nổi hạch hai bên vùng bẹn, cứng và cũng không đau. Những vết loét này còn có thể xuất hiện ở trong miệng hoặc xung quanh miệng nếu người bệnh có oral sex với người đang mang mầm bệnh.

Những vết loét này sẽ tự lành trong 4-8 tuần và không để lại sẹo nhưng không có nghĩa là bệnh đã khỏi mà bắt đầu chuyển sang giai đoạn 2.



Giang mai giai đoạn 2: Giai đoạn này bắt đầu với một số vết nổi mẩn trên lòng bàn tay và lòng bàn chân. Vết mẩn này thường không ngứa, không đau, chỉ là những đốm màu nâu trên da. Các vết nổi bẩn này cũng có thể xuất hiện trên các bộ phận khác nhau của cơ thể mỗi người. Chúng ta thường không chú ý đến những vết nổi mẩn này hoặc cho rằng đây là biểu hiện của bệnh khác. Các triệu chứng khác kèm theo như: căng thẳng, lo lắng, mệt mỏi kéo dài, đau cơ, sốt, đau họng, đau đầu, nổi hạch, rụng tóc, và giảm cân không rõ nguyên nhân…

Giang mai giai đoạn tiềm ẩn: các vi khuẩn giang mai vẫn còn trong cơ thể, nhưng không còn có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào của bệnh. Giai đoạn này có thể kéo dài trong nhiều năm. Tuy nhiên, khoảng 1/3 những người không được điều trị trong giai đoạn tiềm ẩn sẽ phát triển thành giai đoạn 3 của bệnh giang mai, với các triệu chứng nghiêm trọng.

Giang mai giai đoạn 3:

Bệnh giang mai ở giai đoạn 3 có thể kéo dài từ 10-40 năm sau khi nhiễm bệnh. Giang mai giai đoạn này sẽ gây thiệt hại cho não, tim, mắt, gan, xương và khớp của người bệnh. Sự tổn thương này có thể dẫn đến tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

Giang mai là một bệnh xã hội hết sức nguy hiểm, nếu không chữa trị kịp thời có thể gây ra những biến chứng, đe dọa đến tính mạng con người.

Vậy nên, khi thấy cơ thể có những dấu hiệu nghi bệnh, hãy đừng ngại mà đi khám bác sĩ ngay để được chẩn đoán chính xác nhất.
Hỗ trợ trực tuyến